14 Vị trí cấm dừng, đỗ xe theo Luật Giao thông 2025

14 Vị trí cấm dừng, đỗ xe theo Luật Giao thông 2025


14 Vị trí cấm dừng, đỗ xe theo Luật Giao thông 2025

Dừng xe và đỗ xe tưởng chừng như hành động đơn giản nhưng lại dễ gây nhầm lẫn. Để đảm bảo an toàn và tránh vi phạm pháp luật, hãy cùng tìm hiểu 14 vị trí cấm dừng, đỗ xe theo quy định tại Điều 18 của Luật Trật tự, An toàn giao thông đường bộ 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.

14 Vị trí cấm dừng, đỗ xe

Theo Khoản 4 Điều 18, Luật Trật tự, An toàn giao thông đường bộ 2024, người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau:

  1. Bên trái đường một chiều.
  2. Trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc mà tầm nhìn bị che khuất.
  3. Trên cầu, trừ trường hợp có tổ chức giao thông cho phép.
  4. Dưới gầm cầu vượt, trừ các khu vực được phép dừng, đỗ xe.
  5. Song song với xe khác đang dừng, đỗ trên đường.
  6. Cách xe ô tô đỗ ngược chiều dưới 20 mét trên đường phố hẹp, hoặc dưới 40 mét trên đường có một làn xe cơ giới.
  7. Trên phần đường dành cho người đi bộ.
  8. Nơi đường giao nhau, trong phạm vi 5 mét tính từ mép giao nhau.
  9. Điểm đón, trả khách.
  10. Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có đường ra vào.
  11. Tại các khu vực chỉ đủ chiều rộng cho một làn xe cơ giới.
  12. Trong phạm vi an toàn của đường sắt.
  13. Che khuất biển báo giao thông, đèn tín hiệu giao thông.
  14. Trên đường dành riêng cho xe buýt, miệng cống thoát nước, miệng hầm điện thoại, điện cao thế, và chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước.

Quy định về dừng xe và đỗ xe từ 2025

Điều 18 của Luật Trật tự, An toàn giao thông đường bộ 2024 cũng quy định rõ:

Dừng xe: Là trạng thái đứng yên tạm thời của xe, trong thời gian cần thiết để người lên xuống xe, xếp dỡ hàng hóa, hoặc kiểm tra kỹ thuật. Khi dừng xe, không được tắt máy và không rời khỏi vị trí lái trừ khi thực hiện các thao tác như đóng, mở cửa xe.

Đỗ xe: Là trạng thái đứng yên của xe mà không có giới hạn thời gian. Khi đỗ xe, người lái xe phải sử dụng phanh đỗ hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác. Đặc biệt, khi đỗ xe trên đường dốc, cần đánh lái về phía lề đường và chèn bánh để đảm bảo an toàn.

TRUNG TÂM SANG TÊN XE VIỆT NAM

208 Nguyễn Hữu Cảnh, Q.Bình Thạnh, TP.HCM

Hotline I 0972 66 5555

Liên hệ với chúng tôi qua Zalo

Email: 

Website: 

Fanpage: www.

100.000 tỷ đồng có khởi sắc công nghiệp ô tô?

100.000 tỷ đồng có khởi sắc công nghiệp ô tô?


100.000 tỷ đồng có khởi sắc công nghiệp ô tô?

Bộ Công Thương đang thực hiện đề án phát triển ngành công nghiệp ô tô để trình Chính phủ vào cuối năm nay. Cách đây không lâu, bộ này cũng xin lập gói tín dụng 100.000 tỷ đồng để phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong khi các chuyên gia và DN cho rằng, kế hoạch này chỉ làm ngân sách tốn thêm tiền mà không giải quyết được gì.

 

Loay hoay với sản xuất nhỏ lẻ

Theo đề án của Bộ Công Thương, sau hàng chục năm, các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước chủ yếu vẫn là linh kiện và chi tiết đơn giản, với hàm lượng công nghệ trung bình và thấp. Các sản phẩm CNHT có hàm lượng công nghệ cao chủ yếu do doanh nghiệp (DN) FDI cung cấp.

Cụ thể, trong ngành cơ khí, việc đầu tư của các DN đa số là gia công các công đoạn cơ khí đơn giản (dập, cắt, hàn, sơn…) rất ít DN thực hiện các công đoạn, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như đúc, xử lý nhiệt, gia công bề mặt. Với lĩnh vực điện tử, DN mới đáp ứng được các chi tiết nhựa và bao bì.

CNHT của Việt Nam chỉ dừng lại ở sản xuất nhỏ lẻ

Theo Bộ Công Thương, để giải bài toán CNHT, sẽ hình thành gói ưu đãi khoảng 100.000 tỷ đồng dành cho phát triển DN CNHT. Gói này góp phần thực hiện mục tiêu đưa ra, đến năm 2020, sản phẩm CNHT của Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng 45% nhu cầu thiết yếu và tiêu dùng nội địa… 

Cụ thể, giải pháp của Bộ Công Thương đưa ra là: Hướng tới xây dựng chính sách thúc đẩy thị trường cho ngành hạ nguồn, chú trọng ngành ôtô, điện tử, dệt may, da giày, công nghiệp vật liệu, thu hút đầu tư; Bố trí vốn đầu tư xây dựng 3 trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp; Hỗ trợ tín dụng, xử lý môi trường, tháo gỡ vướng mắc thuế… 

“Với giải pháp tài chính, đề xuất hình thành gói tín dụng khoảng 100.000 tỷ đồng với cơ chế tương tự như gói tín dụng dành cho nông nghiệp công nghệ cao để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển, trong đó, ưu tiên cho CNHT”, Bộ Công Thương đề xuất.

Để thuyết phục Chính phủ, Bộ Công Thương cho hay, đến nay có 358 doanh nghiệp sản xuất liên quan ô tô. Trong đó, có 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô, 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe và thùng xe, 214 doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng ô tô… Tuy nhiên, số lượng trên thấp hơn rất nhiều so với 385 doanh nghiệp ở Malaysia và 2.500 doanh nghiệp ở Thái Lan về sản xuất linh kiện phụ tùng ô tô.

CNHT ngành sản xuất, lắp ráp ô tô ở Việt Nam mới chỉ sản xuất được một số nhóm linh kiện, phụ tùng ở mức độ đơn giản, với hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng thấp như chi tiết cấu thành khung gầm xe, thùng xe, vỏ cabin, cửa xe, săm lốp, bộ tản nhiệt, dây phanh, dây dẫn điện, trục dẫn, vành bánh xe…

Bất bình đẳng

Trao đổi với PV Tiền Phong, lãnh đạo một doanh nghiệp lắp ráp ô tô cho hay, nhiều năm qua các cơ quan quản lý vẫn loay hoay bàn luận về cái tên liên quan CNHT mà không nhìn vào bản chất bên trong. Theo vị này, để làm ra sản phẩm cuối cùng, cần có một loạt các quá trình sản xuất, chẳng có DN sản xuất chính, phụ gì. Vì vậy, bất kì chính sách ưu đãi nào cũng phải bắt đầu từ mặt bằng chính sách chung. Khả năng hỗ trợ thuận lợi cho doanh nghiệp phải bắt đầu từ việc thành lập doanh nghiệp, tiếp cận nguồn vốn vay, mặt bằng sản xuất, tuyển dụng lao động, tương tự như hỗ trợ chung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dẫn chứng thị trường xe máy ở Việt Nam, vị lãnh đạo này cho hay, mỗi năm có tới gần 4 triệu chiếc được tiêu thụ. Do sản lượng quá hấp dẫn nên các nhà máy lắp ráp được đầu tư. Khi có tín hiệu nội địa hoá, các nhà cung cấp tranh nhau mọc lên. Chẳng cần có chính sách nào gọi là “phát triển CNHT”.

Nhìn sang ngành ô tô, theo vị này, lại là câu chuyện khác. Sản lượng cả trăm đầu sản phẩm đủ loại. Chẳng có đầu tư sản xuất linh kiện nào có hiệu quả với sản lượng vài ngàn. Chính sách nào để phát triển nhà cung cấp, nếu nhà sản xuất ô tô không mở ra một cái ngách cho khả năng tham gia chuỗi cung ứng của họ?

“Việc ưu đãi cho bất kì ngành sản xuất nào cũng đều có tác động đến các ngành khác. Ưu đãi cho một doanh nghiệp cũng có thể dẫn đến chèn ép một hoặc một số doanh nghiệp khác. Việc ưu đãi dẫn đến giảm thu ngân sách đối với một doanh nghiệp đều có thể dẫn đến sức ép phải tăng thuế, phí ở các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Mấu chốt vấn đề của công nghiệp hỗ trợ không bắt đầu từ tín dụng”, lãnh đạo một doanh nghiệp lắp ráp ô tô khẳng định.

TRUNG TÂM DỊCH VỤ SANG TÊN XE VIỆT NAM

10 xe bán chạy nhất Việt Nam trong tháng 9/2017

10 xe bán chạy nhất Việt Nam trong tháng 9/2017


10 xe bán chạy nhất Việt Nam trong tháng 9/2017

Toyota Vios tiếp tục đứng đầu danh sách 10 ôtô bán chạy nhất của VAMA trong tháng 9/2017, Honda CR-V bất ngờ lên vị trí thứ hai nhờ đợt giảm giá “sốc” trước đó.

Danh sách 10 mẫu xe bán chạy nhất tháng 8/2018 theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) chứng kiến nhiều sự thay đổi vị trí các mẫu xe trong bảng tổng sắp.

TRUNG TÂM DỊCH VỤ SANG TÊN XE VIỆT NAM

10 ô tô rẻ nhất Việt Nam đầu năm 2018

10 ô tô rẻ nhất Việt Nam đầu năm 2018


10 ô tô rẻ nhất Việt Nam đầu năm 2018

Hàng loạt đợt giảm giá trong năm 2017 đã đưa nhiều mẫu ô tô xuống mức giá rất dễ tiếp cận với người tiêu dùng năm 2018.

 

Năm 2017 là một năm đầy biến động với thị trường ô tô Việt Nam, nên “chiêu bài” giảm giá của các hãng xe được áp dụng triệt để, cùng với đó là tác động từ chính sách giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc , và tâm lý chờ đợi của khách hàng… Tất cả đã tạo nên đợt biến động giá xe lớn nhất trên thị trường ô tô VN từ trước đến nay. Để có cái nhìn toàn cảnh hơn về “cuộc đua giảm giá” của các hãng, hãy cùng điểm qua 10 mẫu ô tô có mức giá bán thấp nhất thị trường VN, sau hàng loạt đợt giảm giá xe trong năm 2017:

1. Chevrolet Spark (269 – 389 triệu đồng)

Chevrolet Spark trở thành mẫu xe du lịch 5 chỗ có giá bán thấp nhất thị trường ô tô Việt Nam thời điểm này. Từ mức giá 339 triệu đồng, bản Spark LS đời cũ (chưa face-lift) được các đại lý Chevrolet giảm về mức 269 triệu đồng nhằm mục đích xả hàng. Ngoài ra, còn Spark bản đời mới 2018 với các cấu hình Spark Duo 2 chỗ giá 299 triệu đồng, Spark LS giá 359 triệu đồng và Spark LT giá 389 triệu đồng. Tất cả đều trang bị động cơ xăng, dung tích 1.2L DOHC, sản sinh công suất 80 mã lực tại vòng tua máy 6.400 vòng/phút, mô men xoắn cực đại 108 tại 4.800 vòng/phút kết hợp hộp số sàn 5 cấp.

2. Kia Morning (295 – 394 triệu đồng)

Đây là mẫu xe được xem là một trong những dòng xe chủ lực của Trường Hải (THACO) tại VN, trong năm 2017, khi liên tục được doanh nghiệp (DN) giảm giá bán nhằm cạnh tranh với các đối thủ cùng phân khúc. Và kết quả Kia Morning có doanh số bán đạt hơn 10.000 xe trong năm 2017. Cùng với đợt giảm giá cuối năm 2017, THACO cũng công bố mức giá bán cho Kia Morning trong năm 2018, theo đó từ ngày 1/1/2018 giá mẫu xe hạng A này tiếp tục giảm về mức 290 – 390 triệu đồng. Kia Morning lắp ráp tại VN được trang bị 2 phiên bản động cơ 1.0L và 1.2L. Trong đó, động cơ Kappa 1.2L sản sinh công suất 80 mã lực, mô men xoắn 120 Nm kết hợp với hộp số tự động 4 cấp hoặc số sàn 5 cấp.

3. Hyundai Grand i10 (315 – 415 triệu đồng)

Giá bán Grand i10 liên tục giảm mạnh, sau khi được Hyundai Thành Công chuyển từ nhập khẩu sang lắp ráp trong nước từ năm 2017. Cụ thể, từ mức 359 – 479 triệu đồng trong tháng 1.2017, sau 2 đợt điều chỉnh giá, với mức giảm cao nhất 40 triệu đồng, đến tháng 11/2017 giá bán của 9 phiên bản Hyundai Grand i10 tại VN chỉ còn 315 – 415 triệu đồng. Hiện tại, Hyundai Grand i10 lắp ráp tại VN đạt tỉ lệ nội địa hóa 10%, dự kiến sau 3 năm sẽ tăng lên 40%. 

4. Mitsubishi Mirage (370 – 475 triệu đồng)

Trong tháng 12/2017, hãng xe Nhật đã tung ra thị trường bản Mirage Eco số sàn, cắt giảm một số trang bị và kéo giá bán về mức 370 triệu đồng. Ngoài ra, mẫu xe này còn có phiên bản trang bị động cơ xăng 1.2L kết hợp hộp số CVT có giá 475 triệu đồng.

5. Mitsubishi Attrage (412 – 505 triệu đồng)

Tương tự như Mirage, mẫu sedan hạng B – Attrage cũng được Mitsubishi bổ sung phiên bản giá rẻ Attrage Eco tại VN. Đến cuối năm 2017, mức giá bán 4 phiên bản Mitsubishi Attrage chỉ còn từ 412 – 505 triệu đồng, giúp mẫu xe này trở thành mẫu sedan hạng B có mức giá khởi điểm thấp nhất trên thị trường.

6. Chevrolet Aveo (419 – 459 triệu đồng)

Mức ưu đãi 40 triệu đồng áp dụng trong tháng cuối năm, đã khiến giá bán 2 phiên bản về mức thấp nhất trong năm 2017. Cụ thể, giá bán bản Aveo LT sau khuyến mãi chỉ còn 419 triệu đồng, trong khi đó, Aveo LTZ đầy đủ trang bị hơn, có giá bán 459 triệu đồng. Cả hai phiên bản này đều sử dụng động cơ 1.4L DOHC sản sinh công suất 93 mã lực.

7. Nissan Sunny (428 – 468 triệu đồng)

Doanh số bán sụt giảm, khiến Nissan không còn cách nào khác ngoài việc đưa Sunny gia nhập cuộc đua giảm giá trong năm 2017, nhằm nuôi hy vọng bám đuổi các đối thủ ở phân khúc sedan hạng B, tuy vậy nhưng Nissan Sunny ngày càng tỏ ra hụt hơi. Đợt giảm giá lớn nhất được Nissan áp dụng cho Sunny vào đầu tháng 12/2017. Trong đó, bản Sunny XL được liên doanh của hãng xe Nhật tại VN giảm về mức 428 triệu đồng, mức giá của bản Sunny XV chỉ còn 468 triệu đồng, giảm 50 triệu đồng so với đầu năm 2017. 

8. Toyota Vios (484 – 586 triệu đồng)

Dù được xem là mẫu xe bán chạy nhất thị trường Việt Nam trong năm 2017 (theo số liệu bán hàng của VAMA) nhưng không vì thế Toyota Vios bỏ qua cuộc đua giảm giá. Đầu tháng 11.2017, Toyota chính thức công bố mức giảm từ 48 – 58 triệu đồng cho các phiên bản của Vios, kéo giá bán mẫu sedan hạng B hút khách nhất thị trường về mức 484 – 586 triệu đồng, điều này đã giúp doanh số của Vios tăng mạnh. Toyota VN cho biết, đây cũng là mức giá của Vios trong năm 2018. 

9. Mazda2 (505 – 550 triệu đồng)

Cuối tháng 11.2017 mức giá Mazda2 với hai biến thể sedan, hatchback trang bị động cơ 1.5L được giảm giá chỉ còn 505 – 550 triệu đồng. Theo lộ trình giảm giá bán xe Mazda sau khi áp dụng chính sách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho các dòng xe sử dụng động cơ dưới 2.0L, giá bán Mazda2 từ năm 2018 sẽ tiếp tục giảm về mức 499 – 529 triệu đồng.

10. Ford Fiesta (516 – 568 triệu đồng)

Mức ưu đãi dịp cuối năm từ 43 – 48 triệu đồng được Ford VN cùng các đại lý bán hàng áp dụng trong năm 2017, giá bán mẫu xe hạng B này đã về mức 516 – 568 triệu đồng, Fiesta trở thành một trong những mẫu xe có giá bán thấp nhất tại VN sau khi được giảm giá.

TRUNG TÂM DỊCH VỤ SANG TÊN XE VIỆT NAM

1,6 triệu ô tô phải đổi sang biển số màu vàng từ 1/8

1,6 triệu ô tô phải đổi sang biển số màu vàng từ 1/8


1,6 triệu ô tô phải đổi sang biển số màu vàng từ 1/8

Hiện cả nước có xấp xỉ 1 triệu ô tô kinh doanh vận tải. Tất cả số phương tiện trên đều phải đổi từ biển trắng sang loại biển số màu vàng với kích thước lớn hơn từ 1/8 tới theo Thông tư 58 của Bộ Công an.

Bộ Công an vừa ban hành Thông tư 58 quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Trong đó, nhiều nội dung sẽ có hiệu lực từ 1/8.

Một trong những nội dung đáng chú ý là việc cấp, đổi biển số cho loại hình xe kinh doanh vận tải.

Cụ thể, tại điểm đ khoản 6 Điều 25 của Thông tư quy định biển số ô tô kinh doanh vận tải sẽ có nền màu vàng, chữ và số màu đen, seri biển số sử dụng lần lượt một trong 20 chữ cái sau: A, B, C, D, E, F, G, H, K, L, M, N, P, S, T, U, V, X, Y, Z.

Theo Cục CSGT (Bộ Công an), các xe kinh doanh vận tải đăng ký mới sẽ bắt đầu chuyển sang biển màu vàng từ ngày 1/8. Ngoài ra, đối với các phương tiện kinh doanh hoạt động trước ngày Thông tư 58 có hiệu lực sẽ phải chuyển đổi sang biển vàng trước ngày 31/12/2021.

1,6 triệu ô tô phải đổi sang biển số màu vàng từ 1/8/2020

1,6 triệu ô tô phải đổi sang biển số màu vàng từ 1/8

Theo Trung tá Phạm Việt Công, Trưởng Phòng Hướng dẫn đăng ký và kiểm định phương tiện (Cục CSGT, Bộ Công an), việc phân định màu sắc phương tiện cũng là để thực hiện Nghị quyết 12 của Chính phủ về đăng kí hệ biển màu biển để nâng cao quản lý. Ngoài ra, việc xe kinh doanh vận tải được sơn màu vàng sẽ giúp cơ quan chức năng biết được đây là xe kinh doanh vận tải.

Theo nhà chức trách, nếu xe kinh doanh vận tải không có màu biển sẽ rất khó để biết có hoạt động vận tải hay không để cấm vào giờ cao điểm. Nếu có biển số màu vàng, theo quy định loại xe này không được vào tuyến đường cấm. Từ đây, các cơ quan chức năng sẽ rất dễ trong công tác kiểm soát.

Biển số xe màu vàng không phải lần đầu xuất hiện ở nước ta. Trước đó đã có quy định biển nền vàng, chữ đỏ cho xe của khu kinh tế – thương mại đặc biệt hoặc khu kinh tế cửa khẩu quốc tế theo quy định của Chính phủ.

Kích thước mới của biển số ô tô trong nước

Kích thước mới của biển số ô tô trong nước

Đồng thời tại Thông tư mới cũng có sự thay đổi về kích thước của biển số xe ô tô. Theo đó, xe ô tô sẽ được gắn 2 biển số ngắn với kích thước chiều cao là 165mm, chiều dài là 330mm.

Riêng đối với xe chuyên dùng khi được cơ quan chức năng cấp phép sẽ được đổi sang 2 biển số có kích thước chiều cao là 110mm, chiều dài 520mm; hoặc một biển số ngắn và một biển số dài, kinh phí phát sinh do chủ xe chịu trách nhiệm.

Được biết, hiện nay, các phương tiện sử dụng 2 loại biển số xe. Trong đó, biển số dài có kích thước chiều cao 110 mm, chiều dài 470 mm và loại biển số ngắn có chiều cao 200 mm, chiều dài 280 mm.

Theo KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

 

Tư vấn thủ tục xe ô tô Tư vấn thủ tục xe ô tô